Điểm chết trong kế hoạch làm việc hiện tại của bạn

Có người không rõ ý nghĩa đời mình, có người thì đạt được mục tiêu cuối cùng và có người bật khóc vì những việc họ chưa làm. Những dấu hiệu lờ mờ chỉ ra những hậu quả tai hại bạn sẽ phải nhận, cả khi vừa mới bắt đầu

Cuộc sống là vận động. Bạn luôn có việc phải làm mỗi ngày. Khi gắn mình với những người khác trong xã hội, bạn mang trên mình những trách nhiệm. Chức năng xử lý của bạn với từng trách nhiệm tạo thành những vai trò khác nhau. Công việc và vai trò thì ngày một nhiều hơn. Bạn tìm cách sắp xếp thời gian để có thề xử lý mọi việc thật tốt. Dù vậy cách nào để biết kế hoạch làm việc của bạn đúng? Những dấu hiệu (được nêu) sẽ là cảnh báo.

Bài viết này sẽ làm bạn nhận định lại kế hoạch cũng như cách hoạt động hiện tại. Cuối cùng, bạn phải tạo ra một cách quản trị thời gian chính xác hơn cho riêng mình, khi qua toàn chuyên mục. Trước lúc đó, bạn phải hiểu được nguyên nhân, cũng như cách khắc phục những hậu quả (không như ý) do chính bạn vô tình đưa vào kế hoạch hoặc cách làm việc hàng ngày. Vài thổ lộ có thật sau sẽ là phần dẫn nhập, trước khi đi vào nội dung bài này. Nó như sau.

Ai cũng nói là tôi thành đạt. Tôi làm việc, cọ xát, hy sinh và đã leo lên đến đỉnh cao, nhưng tôi không thấy hạnh phúc. Đâu đó ở sâu trong tâm hồn, tôi cảm thấy trống trải.

Cuộc sống của tôi thật bề bộn! tôi chạy quanh suốt ngày. Nào là hội họp, điện thoại, giấy tờ, các cuộc hẹn. Tôi vắt kiệt sức mình, lăn ra giường ngủ lịm đi và thức dậy sớm vào buổi sáng hôm sau để tiếp tục lập lại như thế. Kết quả công việc của tôi không tồi. Tôi làm được rất nhiều việc. Nhưng đôi khi trăn trở tự đáy lòng: “thể thì sao nhỉ? Điều mình đang làm có thực sự có ý nghĩa? Thú thật là tôi không biết”.

Sự việc được kể lại từ sau lần Stephen (cố vấn kinh tế Mỹ) đi thăm một phụ nữ ông biết:

Nhiều năm trước, tôi đến thăm một phụ nữ còn trẻ (tên Rebecca) tại một bệnh viện. Cô ấy mới 23 tuổi và có hai con nhỏ ở nhà. Cô vừa được bác sĩ cho biết là cô bị ung thư đã di căn. Khi tôi cằm tay cô và cố tìm ra lời để an ủi, thì cô òa lên khóc: “em sẽ đánh đổi mọi thứ chỉ để được về nhà và thay tả lót cho con!”.

Khi nghĩ về lời nói của cô ấy và sự trải nghiệm của tôi với những đứa con của mình, tôi ngẫm ra rằng đã có bao nhiêu lần tôi làm chỉ vì nghĩa vụ, làm cho xong việc. Thậm chí có lúc còn bực bội, vì sự bất tiện mà chúng gây ra cho cuộc sống bận rộn của mình, thay vì nâng niu những giây phút quý giá của cuộc sống và tình yêu mà tôi không bao giờ biết được là nó có trở lại hay không.

Trong những trường hợp trên, bạn nhận ra điều gì về cảm xúc của người trong cuộc? Một điểm chung. Không hạnh phúc. Không hài lòng. Vậy còn trường hợp của bạn thì sao?

Đâu đó bạn đã thấy những trường hợp gần giống như trên. Đôi khi bạn đã trải nghiệm qua trường hợp đầy cảm xúc trong cuộc sống của mình. Sự việc còn nằm đâu đó trong trí nhớ của bạn. Những trường hợp đó luôn đi liền với cảm giác bức bối, khó chịu trong lòng. Tất cả những sự việc trên nói lên điều gì?

Mọi người luôn phải sống chung với hậu quả do sự lựa chọn của chính mình. Nhiều người không bằng lòng với hậu quả đó, dù đa phần kết quả xuất phát từ hành động của họ. Không nhận ra sai lầm trong cách lựa chọn sử dụng thời gian. Họ càng cảm thấy bất mãn với mong ước của mình. Kể cả bạn. Vậy bạn có nhớ mình đã chọn làm gì?

Những cảnh báo đã bị bạn bỏ qua

Việc ra quyết định rõ ràng sẽ dễ dàng hơn đối với sự lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu. Lúc đó bạn có thể dễ dàng nhận ra cách sử dụng thời gian nào là lãng phí, vô bổ, có hại. Dù vậy phần nhiều việc bạn gặp, thì vấn đề lựa chọn không nằm giữa tốt và xấu mà là giữa tốt và tốt nhất. Từ đây bạn dần mất phương hướng và những điều tốt dần kéo bạn lại. Gần với làm điều xấu. Bạn mất dần tính chủ động.

Kẻ thù của tốt nhất chính là tốt.

Khi bạn làm việc hoặc có kế hoạch làm việc, bạn tin cách đó là tốt nhất. Bạn gần như không cần kiểm tra lại. Bạn áp dụng ngay vì tin nó sẽ đưa tới kết quả bạn muốn. Vậy lúc nào phải suy nghĩ lại, khi bạn tin nó đúng? Những cảm xúc hoặc hành động của bạn sẽ nói lên sự thật. Kế hoạch và cách làm việc của bạn chưa tốt, khi xuất hiện các dấu hiệu sau:

Bạn thường nói: “tôi không có thời gian” hoặc điều tương tự.

Bạn cảm thấy bị giằng xé. Gia đình rất quan trọng, công việc cũng vậy. Bạn sống trong sự mất thăng bằng thường trực, tìm cách dung hòa giữa hai đòi hỏi này. (Bạn từng tự hỏi) Có cách nào để thực sự thành công và hạnh phúc, cả trong công việc tại cơ quan lẫn trong cuộc sống gia đình?

Bạn có rất ít thời gian dành cho bản thân.

Đôi lúc bạn cảm thấy một sự trăn trở mơ hồ. Có lúc thấy cuộc sống trống rỗng.

Bạn bức bối do phải chạy theo kế hoạch, vỡ kế hoạch hoặc gián đoạn vì những sự việc hoặc người nào đó.

Cảm thấy một ngày trôi qua quá nhanh, nhàm chán.

Bạn ít khi hài lòng, sau một ngày làm việc mệt mỏi.

Đôi lúc bực bội vì cố gắng không được kết quả như ý.

Nếu có ít nhất một trong số những dấu hiệu trên, kế hoạch và cách làm của bạn đã bộc lộ khuyết điểm. Dù luôn cố gắng để làm nhiều việc nhất, bạn sẽ vẫn bị bức xúc hoặc thấy thất vọng. Có phải khi hoàn thành kế hoạch bạn sẽ hạnh phúc không? Vậy tại sao mỗi ngày làm theo kế hoạch (tiến dần tới đích), bạn không cảm thấy hài lòng? Bạn đã vướng phải điều gì trong kế hoạch của mình?

Khi đi qua toàn bộ chuyên mục mục này, bạn sẽ có câu trả lời cho câu hỏi trên. Hãy nhớ những câu hỏi đó. Vì đáp án của bạn bị chi phối bởi nhiều yếu tố chung. Để có thể tìm được đáp án cho riêng bạn, một bài viết không thể giải quyết triệt để được.

Để tìm ra nguyên nhân. Đầu tiên cần phải nhìn lại các loại kế hoạch quản lý thời gian bạn từng dùng (hoặc biết đến).

Các loại hình quản lý thời gian

Theo dòng chảy của công việc, những yêu cầu về hiệu suất công việc làm nảy sinh và phát triển thành các loại phương pháp quản lý thời gian khác nhau.

Đầu tiên, khi học tiểu học, bạn bắt đầu với các lịch biểu cố định. Lớn lên, khi nhận diện lịch làm việc đó, bạn bắt đầu ứng dụng nó. Đơn giản nhất là dạng thông báo về một ngày quan trọng nào đó. Như là ngày sinh nhật của người bạn quen. Bạn đã dùng nó rồi phải không? Chúng được xếp thành nhóm các công cụ nhắc nhở.

Dù vậy phương pháp này dần để lộ khuyết điểm, khi bạn làm một việc phức tạp hơn. Công việc không thể hoàn thành trong một ngày. Bạn cần có thời gian để chuẩn bị, trước khi ngày đó đến. Lịch làm việc của bạn bắt đầu gắn thêm những việc phải chuẩn bị trước đó. Chúng được xếp thành nhóm công cụ lập kế hoạch và chuẩn bị.

Vào thời điểm đó, công việc lại càng lúc càng nhiều hơn với các vai trò bạn làm (tăng cùng tuổi tác). Thăng chức, việc công ty, gia đình, chuyện vợ con,… Bạn gặp những trường hợp trùng lịch. Việc này đè lên việc khác. Bạn quá tải. Bạn phải lựa chọn làm gì?

Một phương pháp mới hơn đã nảy sinh để bạn làm việc có nhiều kết quả mong muốn hơn. Nó áp dụng nguyên lý số ít trọng yếu (nguyên lý 80/20 hay Pareto). Một bước quan trọng là phân biệt việc có mức độ quan trọng cao hơn (hoặc khẩn cấp hơn), để bạn chọn làm. Vì bạn không có thời gian để hoàn tất mọi vai trò trong ngày, nên buộc phải làm được việc quan trọng nhất. Càng nhiều càng tốt.

Để bạn dễ nắm bắt nội dung nguyên lý, phần giải thích thêm về nguyên lý 80/20 sẽ nếu thêm ở cuối bài (*1).

Mọi việc với bạn giờ đã là thói quen. Bạn muốn quản lý mọi thứ, tăng hiệu suất. Bạn biến mình thành một cái máy. Dù vậy vẫn gặp trường hợp vỡ kế hoạch. Cảm thấy bức xúc, bị gián đoạn, vì những chuyện phát sinh đột ngột (từ: gia đình, sự cố,…). Bạn bỏ qua và tiếp tục làm việc. Tuân thủ kế hoạch. Các công cụ lúc này xếp vào nhóm đặt kế hoạch, ưu tiên và kiểm soát.

Đó là thực tế công việc. Bạn đang sử dụng loại công cụ nào? Không quan trọng. Vì tư tưởng các công cụ trên đã đặt dấu ấn lên bạn (thói quen). Bạn muốn quản lý mọi việc, bất chấp cả nhận định thực tế (quy luật tự nhiên). Vấn đề là cuộc sống luôn biến đổi, trong khi kế hoạch thì cố định. Sống trái với quy luật tự nhiên, lương tâm của bạn nhiều lần phải chất vấn lại mình. Cắn rứt. Vậy phải làm sao? Bỏ kế hoạch?

Kế hoạch làm việc là điều tất yếu phải có. Kế hoạch thường thiếu chút tính linh động, vì áp theo tiến bộ khoa học tự nhiên. Thực tế, những vận dụng của khoa học tự nhiên là nguyên nhân tạo nên điểm mạnh trong năng suất làm việc hiện nay. Dù vậy những gì áp dụng được trong khoa học tự nhiên đôi lúc không nên áp lên khoa học xã hội. Hệ quả nảy sinh, khi thực tế mong muốn của bạn không phải là năng lực của người khác (hoặc của chính bạn). Hoạt động của cá nhân chỉ tuân theo quy luật tự nhiên chứ không theo quy luật của bạn. Dễ thấy nhất là bạn không thể liên tục làm việc mà không có thời gian nghỉ ngơi. Và còn nữa.

Một vài sự việc sau sẽ cho bạn thấy cái nhìn sai lầm này ở một số đối tượng (có thể có cả bạn).

Sự thật

Môi trường kinh doanh lúc nào cũng phải cạnh tranh. Amazon là một tên tuổi lớn có mặt trong môi trường đó. Bằng khả năng phát triển một đặc điểm dịch vụ nổi bật của mình. Công ty đã đưa tốc độ làm việc của một người bình thường trở thành ấn tượng. Mọi việc cũng xuất phát từ đây.

Nhân viên tại kho mới của Amazon ở Đảo Staten đã chính thức công bố chiến dịch của họ vào tháng 12, được hỗ trợ bởi liên minh gồm cửa hàng bán lẻ, bán buôn và bách hóa. Chính họ cũng đã đề ra mối lo ngại về sức khỏe với ca làm việc 12 giờ, đóng gói 240 đến 400 mặt hàng mỗi giờ, trung bình mỗi mặt hàng 10 đến 15 giây.

Tại một kho hàng khác. Một nhân viên ở Staten Island nói rằng: “Nếu xem mỗi nhân viên là người chọn hàng, thì họ yêu cầu người đó cứ sau 7 giây phải chọn được một mặt hàng, lấy được 400 mặt hàng mỗi giờ”.

Một cựu nhân viên khác đến từ kho ở Etna, Ohio cho biết anh ta không thể theo kịp được khối lượng công việc ở đây: “Ngay cả khi đó không phải là lỗi của bạn, thì họ vẫn phớt lờ mọi lời giải thích mà bạn đưa ra”. Anh ta còn nói thêm rằng anh luôn trong tình trạng “lo sợ” cho chính công việc của mình.

Năm trong số sáu công nhân của Amazon đã và đang được The Daily Beast phỏng vấn tiết lộ: sau khi họ gặp sự cố tại nơi làm việc, họ đã bị cho nghỉ việc tạm thời để chăm sóc y tế, hoặc cho nghỉ mất sức.

Và việc gì đến phải đến

Theo The Daily Beast, trong kỳ nghỉ phép, một số công nhân được hưởng chính sách hỗ trợ của Amazon, bao gồm ba cuộc trò chuyện trao đổi qua điện thoại với các chuyên gia tâm lý.

Nhưng ngay cả khi sử dụng bảo hiểm y tế do Amazon cung cấp thì vấn đề chi phí cũng là một gánh nặng tài chính đối với người lao động.

Tờ báo Daily Beast cũng đã nói về một sự việc cụ thể: Jonathan Forrest, 36 tuổi, đã tự kết liễu đời mình, khi làm việc cho Amazon.

Forrest ban đầu rất hào hứng, khi bắt đầu ở vị trí mới với tư cách là nhân viên chọn hàng tại Amazon. Thậm chí anh ta đã đứng ở vị trí thứ 8 trong số 100 người được chọn, công việc của họ là đặt các vật phẩm vào thùng hàng.

Nhưng cha của anh – Butch, cho biết sau vài tháng làm việc, con trai của ông trở nên ghét vị trí mà anh đang làm và bắt đầu đưa ra những ý nghĩ tự tử vào mùa hè năm 2017.

Forrest có đủ tiêu chuẩn để được nghỉ phép và có sự hỗ trợ từ bác sĩ tâm thần. Bác sĩ đã chẩn đoán anh bị rối loạn lưỡng cực và kê đơn thuốc cho anh.

Ngay sau khi Forrest trở lại làm việc tại nhà kho của Amazon, anh lại bắt đầu nảy ra nhiều ý nghĩ tự tử hơn, theo The Daily Beast.

Sức khỏe tinh thần của anh tiếp tục xấu đi và vào tháng 1 năm 2018, Forrest đã tự kết liễu mạng sống của mình.

Cha của Forrest nói với giới báo chí rằng ông biết con trai mình đã từng phải vật lộn với sự căng thẳng ở nhiều cấp độ; nhưng ông cho rằng việc con trai ông làm việc tại Amazon đóng vai trò chính gây ra nguyên nhân của vụ tự tử này.

Butch nói: “khi nói đến những ngày lễ, đó sẽ là 5 ngày làm liên tiếp không ngừng nghỉ. Nó đã giết con trai tôi.”

Bạn thật sự là gì?

Chắc chắn không phải là cái máy. Bạn là một người có lý trí lẫn tình cảm. Dù mong muốn của bạn là có thật. Phải làm việc nhiều hết mức. Phải đáp ứng kế hoạch bạn đã vạch ra. Bạn vẫn sẽ không thể hài lòng được, khi nhìn nhận của mình chưa thuận theo tự nhiên. Kế hoạch là cố định trong khi tự nhiên luôn biến động. Mong muốn của bạn chưa chắc là khả năng của bạn. Khi mong muốn không phù hợp sự thật sẽ nảy ra điều gì?

Có người coi hạnh phúc chỉ là sự thành công về mặt tài chính hay nghề nghiệp và rồi nhận ra “thành công” như vậy không đem lại sự mãn nguyện như họ tưởng. Kiên trì leo lên các nấc thang của danh vọng, từng nấc một, bằng cấp, những đêm dài làm việc, những lần được đề bạt. Để rồi nhận ra, khi đã đạt được đến đỉnh cao, chiếc thang đó đã bắt nhầm bức tường.

Một số người biết mình đang bị mất thăng bằng, nhưng không đủ lòng tin để tìm giải pháp khác. Hoặc nghĩ rằng cái giá của sự thay đổi quá đắt. Sợ thay đổi. Do đó dễ hơn cả là cứ sống chung với sự mất thăng bằng đó.

Dành hết thời gian cho việc leo thang, có người để lại phía sau dấu vết của những mối quan hệ tan vỡ, đánh mất những giờ phút phong phú có chiều sâu trong cuộc sống. Vì những nỗ lực căng thẳng, tập trung quá mức. Trong cuộc đua leo thang, họ đã không dành thời giản để làm điều thực sự quan trọng. Một thiếu sót.

Càng lớn tuổi, người ta nhận ra một điều hiển nhiên rằng có sự khác biệt thực sự giữa cái muốn và điều họ thật sự cần trong cuộc sống. Nhiều người trong khi đạt được ngày càng nhiều mục tiêu… thì lại cảm thấy hạnh phúc và sự mãn nguyện ngày càng giảm đi. Đây cũng là lúc lương tâm chất vấn họ về những điều quan trọng nhiều nhất. Lần gần nhất lương tâm khiến bạn nghĩ lại về việc gì?

“Vậy những điều quan trọng nhất thật sự là gì?”

Để biết rõ đâu là điều quan trọng nhất và đưa nó vào kế hoạch cá nhân của bạn. Các câu trả lời thường đáp ứng được ba phần sau:

-Nhu cầu và năng lực cở bản của một cá nhân.

-Bốn tiềm năng thiên phú (tư duy) của cá nhân.

-Nguyên tắc (chân lý) vận hành của tự nhiên.

Nhu cầu và năng lực

Ở góc độ tự nhiên, một người bình thường luôn ở trong một môi trường nhất định. Cuộc sống của họ dựa trên những điều kiện cơ bản xuất phát từ môi trường tự nhiên (ở xung quanh). Từ đây trong mỗi cá nhân phát sinh ra những nhu cầu cơ bản với tự nhiên bên ngoài (lẫn bên trong cá nhân).

Khi cá nhân phải đáp ứng nhu cầu sống (ăn, mặc, ở,..), họ tìm những thứ cần thiết từ môi trường bên ngoài (vật chất). Sự xuất hiện của nhu cầu vật chất làm nảy sinh năng lực sống ở cá nhân.

Khi môi trường tự nhiên không thỏa mãn nhu cầu. Việc phát triển trí tuệ nảy sinh, để giúp cá nhân tìm đến sự thỏa mãn. Từ đây nhu cầu học tập xuất hiện để giúp cá nhân có thêm khả năng hoặc trở thành (thứ có đủ sức đáp ứng nhu cầu cá nhân hoặc chi phối hoàn cảnh). Nói cách khác, nhu cầu học tập nảy sinh từ môi trường đòi hỏi trí tuệ (với điều kiện trí tuệ được sử dụng giải quyết vấn đề của cá nhân – người học).

Nhu cầu về trí tuệ làm nảy sinh năng lực học tập trong cá nhân.

Từ việc duy trì và phát triển nồi giống trong tư nhiên, xã hội có mặt, khi các cá nhân tương tác với nhau. Ở đây cá nhân trong tập thể (xã hội) bắt đầu phát sinh nhu cầu tình cảm yêu thương và được yêu thương (phát triển từ việc bảo vệ lẫn nhau trong môi trường tự nhiên- nguyên thủy). Nhu cầu tình cảm (yêu thương) phát sinh từ tương tác với xã hội.

Đồng thời nhu cầu tương tác với xã hội cũng làm nảy sinh năng lực truyền tải cảm xúc (yêu thương).

Qua khả năng phát triển trí tuệ (nhận thức) của cá nhân. Nhu cầu cá nhân về việc nhận thức về chính nhận thức cá nhân tạo thành môi trường tinh thần trong chính cá nhân đó. Môi trường này trở thành độc lập với tự nhiên. Nó là môi trường nhân tạo. Môi trường tư duy độc lập trong cá nhân.

Nhu cầu nhận thức về yêu thương làm nảy sinh năng lực truyền trao di sản ở một cá nhân. Đây cũng là sự hòa hợp giữa tinh thần và tình cảm.

Tất cả những nhu cầu trên ảnh hưởng rất lớn đến việc bạn sử dụng thời gian. Cũng như chất lượng sống của bạn. Sự hiện diện của nó là nền tảng trong mỗi đời sống cá nhân. Sự thiếu hụt của bất cứ yếu tố nào cũng làm chất lượng cuộc sống của bạn giảm đi.

Bạn có thể hình dung bốn nhu cầu như hình sau:

“Việc đó nói lên điều gì?”  

Khi bất cứ nhu cầu cơ bản nào bị thiếu hụt, nhu cầu đó sẽ là sự quan tâm hàng đầu của bạn. khi thiếu hụt quá lâu, bạn sẽ hình thành thói quen chạy theo tính khẩn cấp. Trong những trường hợp đó bạn trở thành người chuyên xử lý khủng hoảng. Điều này sẽ thể hiện rõ trong kế hoạch làm việc, cũng như cách hoạt động của bạn. Mất bình tĩnh, căng thẳng là điều bạn hay gặp.

Khi bạn nhận diện sự tồn tại của các nhu cầu, suy nghĩ sau đây có thể cũng nảy sinh trong bạn (cũng như ở nhiều người khác). Các nhu cầu kể trên là khác nhau và riêng biệt nhau. Bạn có cho là vậy? Sau đây là thực tế.

Ví dụ: khi bệnh, nhu cầu vật chất (cơ thể) lúc này của bạn sẽ ảnh hưởng đến khả năng suy nghĩ (nhận thức) và giao tiếp với người khác (xã hội). Khi một người vô cùng yêu thương mất đi, việc này sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến suy nghĩ, tinh thần cũng như sức khỏe ở bạn. Khi bạn không muốn tìm cách (học tập) đáp ứng một nhu cầu cụ thể của mình, bạn sẽ thấy cảm giác trì trệ ở bản thân, cũng như ít muốn quan tâm đến các mối quan hệ xã hội.

Khi một người cho rằng các nhu cầu tồn tại độc lập với nhau, hành động của người đó sẽ bộc lộ niềm tin đó. Trong kế hoạch làm việc hay trong hoạt động sống hàng ngày, mọi việc họ làm giống như chạy nhanh từ nhu cầu này đến nhu cầu khác. Sao cho có đủ thời gian dành cho mỗi phần một ít, một cách đều đặn. Khi đạt được một mục tiêu, họ thường cảm thấy đã đánh đổi một thứ gì đó (dễ gặp nhất là thời gian cho các mối quan hệ hoặc sức khỏe). Bạn có hay bị vậy?

Hiển nhiên là khi bạn chọn làm việc này, bạn sẽ không thể làm được việc khác. Vấn để ở đây là sự bức bối, hối hận, cắn rứt trong bạn. Nó là kết quả. Điều đó chứng tỏ mục tiêu ban đầu bạn chọn đã sai. Vậy phải làm sao?

Vậy làm thế nào để có một mục tiêu đúng và một kế hoạch đúng?

Bạn sẽ rút được đáp án, khi nắm được toàn chuyên mục này. Đó là câu trả lời nằm trong chính bạn.

Vấn đề ở đây là cách bạn nghĩ. Suy nghĩ theo cách thức riêng lẻ về các nhu cầu làm bạn bỏ qua thực tế về tính tương thuộc, hiệp lực giữa các yếu tố. Trong thực tế, cuộc sống là một tổng thể, không thể tách rời.

Tổng thể (không thể tách rời) giống như hình sau:
tổng thể 4 nhu cầuNếu bạn coi nhu cầu vật chất tách rời khỏi các nhu cầu còn lại, bạn có thể không nhận thức đầy đủ về sức khỏe. Khi nào sức khỏe không đáp ứng được công việc, bạn sẽ chăm lo sức khỏe.

Nếu xem nhu cầu trí tuệ tách rời các phần khác, bạn sẽ học được rất nhiều thứ không giúp xử lý vấn đề bạn gặp. Trường hợp còn lại là lao vào làm một cách như nhau với mong muốn đạt kết quả khác.

Khi nhu cầu tương tác với người khác tách biệt các nhu cầu khác. Bạn có thể quen rất nhiều người và chẳng thấy có ý nghĩa gì. Có khi bạn chăm lo cho người khác để rồi hủy hoại sức khỏe của mình. Ngược lại, các mối quan hệ được xây dựng chỉ để lợi dụng cho một mục tiêu cá nhân. Bạn không cảm thấy chút tình cảm yêu thương nào.

Khi nhu cầu tinh thần tách biệt các nhu cầu khác và không dựa trên quy luật (chân lý) tự nhiên. Rất dễ phát sinh sự cuồng tín. Tinh thần không tương thuộc với vật chất, kế hoạch hoặc hành động của bạn có thể gây hại cho mình (tự sát, ảo tưởng). Tinh thần không giao với xã hội, kế hoạch hay hành động lúc này sẽ dễ làm hại người khác. Những tư tưởng chia rẻ, phân biệt và gây hại bắt đầu từ đây. Và còn nữa.

Nhờ nhận thức được sự tương hỗ của các nhu câu, bạn có thể tìm thấy chìa khóa để đáp ứng một nhu cầu chưa được thỏa mãn là “sự chú ý đến”, chứ không phải là “bỏ qua các nhu cầu” khác. Nếu là “sự chú ý đến” thì kế hoạch (hay cách hoạt động) có gây cho bạn sự bức bối trong lòng?

Khi tránh được các sai lầm từ tư tưởng riêng biệt, bạn sẽ nhận thấy mối liên hệ tương hỗ. Thay vì nhìn một vấn đề như một sự việc riêng biệt. Bạn nhìn nó như bộ phận hỏng trong tổng thể cùng tồn tại. Từ đây bạn đồng thời xử lý vấn đề cùng với việc tương tác những phần liên quan, bên cạnh, chung quanh chính bản thân vấn đề. Sự toàn diện.

Khi thuần thục quan điểm tương hỗ (tổng thể), bạn đã đặt xong nền móng cho việc lãnh đạo cá nhân. Các ưu điểm của phương pháp quản trị thời gian (từ chân lý) sẽ sớm đến với bạn.

Khi sử dụng sự hiệp lực của bốn nhu cầu cá nhân, kế hoạch và cách hoạt động của bạn sẽ biến đổi hoàn toàn. Tại nơi tương thuộc của các nhu cầu, đó là nơi bạn cảm thấy thỏa mãn, vui sướng và đạt cân bằng trong nội tâm. Tại sao lại như vậy?

Bản chất của nơi hội tụ các nhu cầu

Động lực hay hành động cá nhân là biểu hiện của tinh thần. Khi tinh thần kết hợp với một nhu cầu cụ thể sẽ sinh ra các kiểu năng lực (tư duy) nhất định (ví dụ: tinh thần kết hợp với nhu cầu vất chất sẽ sản sinh tư duy ích kỷ, tư lợi). Mong muốn đáp ứng được nhiều nhu cầu nhất sẽ gặp nhiều trở ngại nhất. Đồng nghĩa sức mạnh tinh thần tạo ra ở đó lớn nhất. Khi tinh thần hội tụ cùng các nhu cầu khác sẽ hình thành sự biến đổi năng lực trong từng nhu cầu. Nó hình thành năng lực tư duy lớn nhất. Khả năng cống hiến cùng tinh phần phụng sự.

Trong kế hoạch hay cách hành động của bạn, khi mục tiêu bạn đạt được đúng với tinh thần, hợp với chân lý (quy luật tự nhiên) sẽ không gây bức bối, cắn rứt hay suy xét lại. Bạn sẽ phải đưa loại động lực này vào kế hoạch của mình. Qua việc dùng năng lực tư duy thiên phú của mình. Bằng cách nào?

Trước tiên, bạn cần biết những khả năng tư duy có được. Sau đó đưa tất cả các đặc điểm của tư duy cá nhân vào kế hoạch và tránh sự thiếu sót những lợi thế bạn có.

Bốn tiềm năng trong tư duy của cá nhân

Môi trường tự nhiên luôn (xuất hiện các tác nhân) tác động lên bạn. Phản ứng của bạn phát sinh từ đây. Đồng thời giữa tác nhân và phản ứng có một khoảng cách. Chính tư duy của mỗi người tạo thành khoảng cách giữa tác nhân (đối tượng của tư duy hoặc môi trường) và phản ứng. Khoảng trống đó là sự lựa chọn của từng cá nhân dựa trên sự nhận thức. Dù vậy ai cũng có thể gia tăng khoảng trống đó. Thông qua các tiềm năng (chung) sau:

-Khả năng tự nhận thức.

-Lương tâm.

-Tư duy độc lập.

-Khả năng tưởng tượng.

Khả năng tự nhận thức

Lả khăng năng nhận diện các sự vật, hiện tượng, đối tượng, phân biệt – ghi nhớ… và khả năng nhận xét khách quan về bản thân qua các mặt như: tư duy, động cơ sống, quá trình hoạt động, sự dạy dỗ, hành động, thói quen và xu hướng.

Nhận thức giúp cho bạn nhận diện hành động và mở rộng được khoảng cách giữa tác nhân và phản ứng.

Lương tâm

Là việc nhận thức lại hành động dựa trên các chân lý, nguyên tắc, niềm tin, quan điểm, tình thương, cảm xúc so với trước lúc hành động. Nó thường đến, khi kết quả bạn trông thấy và điều bạn nghĩ tới cách biết quá lớn. Lương tâm cũng cho phép bạn cảm nhận (khi hành động) hoặc nhận thấy trước được các kết quả đi ngược lại chân lý và những gì đã tự nhận thức. Một sự kiện.

Để thoát khỏi sự đàn áp của Đức Quốc xã. Những năm 1930 rất nhiều nhà khoa học ở châu Âu chạy sang Mỹ (có Albert Einstein, Leo Szilard, Edward Teller, Eugene Wigner…). Với Albert Einstein, ông luôn kêu gọi chống lại chiến tranh và chống lại sự tàn bạo của Đức Quốc xã.

2/8/1939 một bức thư gửi cho tổng thống Roosevelt có tên “Einstein – Szilard”. Albert Einstein đã soạn thảo lá thư với sự giúp đỡ của nhà vật lý người Hungary Leo Szilárd. Trong khi Leo Szilard lại nằm trong số những người ngầm ủng hộ chương trình phát triển bom dựa trên những phát hiện mới nhất thời kỳ đó về vật lý hạt nhân và hóa học.

Một bức thư thể hiện trách nhiệm của các nhà khoa học tị nạn. Tổng thống Mỹ được cảnh báo về khả năng các nhà khoa học Đức có thể chế tạo thành công bom nguyên tử và đồng thời trùm phát-xít Adolf Hitler rất quyết tâm sở hữu thứ vũ khí như vậy. Mặt khác, tổng thống Roosevelt không thể gánh rủi ro, khi Hitler đơn phương sở hữu bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới. Cùng với lá thư hồi âm và cuộc gặp trực tiếp với Einstein, Mỹ bắt đầu bước vào cuộc đua phát triển bom nguyên tử thông qua dự án bí mật tên Manhatan (28//12/1942) với mục tiêu vũ khí hóa năng lượng hạt nhân.

Chưa đầy 3 năm, ngày 16/7/1945, Mỹ trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới sở hữu bom nguyên tử. Sau khoảnh khắc quả bom mật danh “The Gadget” được thử thành công tại một địa điểm trên sa mạc ở bang New Mexico.

6/8/1945, Mỹ ném quả bom nguyên tử mật danh “Little Boy” xuống thành phố Hiroshima (Nhật Bản). Thông tin lúc đó cho biết 10.000 người thiệt mạng.

Ba ngày sau, ngày 9/8/1945, quả bom thứ hai mật danh “Fat Man” tiếp tục phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki. Thông tin về phần lớn thường dân thiệt mạng bị đẩy lên trên 70.000.

Hay tin Mỹ ném bom nguyên tử liên tiếp xuống 2 thành phố của Nhật khiến không ít người đau đớn. J. Robert Oppenheimer, một trong những “cha đẻ của vũ khí nguyên tử”, người đứng đầu dự án Manhattan, phải thốt lên rằng: “Tôi khác gì thần chết, kẻ gieo rắc sự hủy diệt cho thế giới tươi đẹp này!”.

Tại Oak Ridge (căn cứ bí mật của Mỹ với hơn 70.000 người) cư dân hoảng loạn. Những nhà khoa học (tại nơi chế tạo quả bom “Little Boy”) cũng hoàn toàn đổ gục. Xen lẫn trong đó là tiếng khóc, sự hối hận với thực tế mà chính họ phải đối mặt: “Quả bom nguyên tử chết người, sản xuất tại Oak Ridge, được chính phủ lệnh thả xuống Nhật Bản.”; Và rằng “Oak Ridge không kích Nhật Bản…”; Báo chí và đài phát thanh truyền đi những câu chuyện miêu tả “đó là một thứ vũ khí hủy diệt khủng khiếp vô cùng”… Họ khóc và cảm thấy trống rỗng, khi nhận ra điều mình đã góp sức vào.

Riêng đối với Albert Einstein. Một năm trước khi qua đời, chính xác vào tháng 11/1954, ông mang nỗi day dứt suốt 9 năm kể lại cho người bạn già của mình: “Tôi đã gây ra một trong những lỗi lầm lớn nhất trong cuộc đời… đó là khi tôi đặt bút ký vào bức thư gửi tổng thống Roosevelt, mong muốn ông ấy chế tạo bom nguyên tử trước khi Đức Quốc xã có được nó…”

Với mong muốn chấm dứt chiến tranh. Với hy vọng về một thế giới không có sự chết chóc, chia lìa… Một bức thư ủng hộ đưa tới một loại bom, một thành phố bị thiêu cháy trong cái nóng gần 4000 độ, hai ngày đen tối với cái chết của 80.000 người, nước mắt, sự hối hận và suy xụp của 70.000 người khác. Một lá thư khiến Einstein hối tiếc đến tận những giây cuối đời.

Nếu bạn phải nghĩ tới hậu quả từ những gì đang làm, thì lúc nào bạn cần phải hành động vì những điều tốt đẹp nhất?

Lương tâm cũng giúp cho bạn nhìn lại một viễn cảnh do hành động (sứ mệnh) bạn muốn hướng tới.

Ý chí độc lập

Khả năng tư duy thuần túy. Đồng thời cũng là sự đúc kết niềm tin từ nhận thức của cá nhân (có thể dựa trên chân lý hoặc không) và tuân thủ những niềm tin do mình tạo ra. Ý chí độc lập cho cá nhân sức mạnh để hành động và thay đổi các định kiến (không hợp với chân lý) từ niềm tin cũ của bản thân hoặc niềm tin của xã hội.

Dù nhận thức được ảnh hưởng của di truyền và môi trường là rất lớn, nhưng nó không thể chi phối cuộc sống (tư duy) của cá nhân. Tư duy độc lập giúp bạn viết lại cuộc đời mình và hành động dựa vào (niềm tin) chân lý, thay vì chỉ phản ứng dựa vào cảm xúc hay quan điểm xã hội.

Cá nhân luôn có khả năng quyết định, lựa chọn hành động, lựa chọn phản ứng. Vì vậy bạn làm chủ tư duy của mình. Bạn là tác nhân chứ không phải là nạn nhân. Bạn là kết quả từ sự lựa chọn hành động của mình. Bạn có thể chọn hành động dựa trên sự tự nhận thức, lương tâm và tầm nhìn của chính mình. Vận dụng trí lực.

Trí tưởng tượng sáng tạo

Là khả năng hình dung về tương lai, hình thành định hướng và nghĩ cách giải quyết vấn đề một cách tổng hợp. Khả năng tưởng tượng giúp bạn viết ra bản tuyên ngôn sứ mệnh (căn bản đó là cách hành động bạn sẽ tuân thủ để đạt điều tốt đẹp bạn hình dung được), đặt mục tiêu cuộc sống (gồm cả cảm xúc, niềm vui của bạn) hay lên kế hoạch thực hiện.

Hiểu được những tiềm năng trong tư duy của mình, bạn sẽ có cách vận dụng nó vào kế hoạch làm việc. Dù vậy chỉ khi mở rộng các tiềm năng tư duy (cũng như mở rộng khoảng cách giữa tác nhân và phản ứng), bạn mới có những lựa chọn tốt hơn trong cách dung hòa môi trường tự nhiên đầy biến động với kế hoạch làm việc của bạn. Kết quả bạn mong đợi cuối cùng vẫn là biểu hiện của năng lực tư duy. Sau đây là một số cách đơn giản nhất để giúp bạn phát huy tiềm năng của mình.

Ghi chép cá nhân

Trí nhớ là khả năng tự nhiên của não. Khả năng quên cũng là việc bạn gặp. Để nuôi dưỡng sự nhận thức, phân biệt – ghi nhớ. Chữ viết xuất hiện (một thành tựu của nhân loại). Qua chữ viết những khuyết điểm, hạn chế của khả năng ghi nhớ được khắc phục. Vì vậy để nâng cao sự tự nhận thức (ghi nhớ – phân biệt), ghi chép lại những suy nghĩ hay việc bạn gặp phải là giải pháp hữu hiệu. Tất nhiên không phải ghi lại mọi thứ (chỉ vì não lúc nào cũng có suy nghĩ). Bạn chỉ cần ghi ra vài việc được nêu tiếp sau đây (hoặc những gì bạn muốn).

Một bức thư thời trai trẻ. Khi tôi viết bằng cả trái tim, bức thư được gửi đi. Sau đó nó trở về cố chủ. Sau nhiều năm giấu kín, tình cờ tôi xem lại. Cảm xúc quay trở lại. Tôi ngớ ngẩn như xưa. Dù giờ đã khác xưa (tóc trắng hơn), xong tâm hồn (ngớ ngẩn) thì vẫn vậy.

Bạn có thể đã cảm thấy gì đó qua những câu từ bạn đọc được. Tôi tin bạn từng viết thư (hay thiệp) và khi đọc lại những gì bạn viết, cảm xúc của bạn ít nhiều trở về. Đó là sức mạnh có thực của từ ngữ. Để việc viết phát triển nhận thức, bạn phải thật sự có tình cảm, cảm xúc nào đó gửi vào. Đó là yêu cầu chính.

Có một số trường hợp người viết rất ngạc nhiên trước điều được ghi lại. Những ghi chép đã được chính người viết đạt được. Dù họ đã lãng quên nó. Những ghi chép tốt thường đến từ hoàn cảnh gây ra cảm xúc. Bạn nên tận dụng nó. Đó có thể là những trường hợp sau:

Bạn không hài lòng về cuộc sống. Đôi khi bạn không hiểu vì sao cứ hay làm những điều bản thân biết chắc là có hại hay vô bổ. Hãy ghi ra và xem xét đâu là nguyên nhân xâu xa của sự việc đó. Khi bạn có một ý tưởng nào đó hay lúc quan sát thấy một nguyên tắc được ứng dụng cho kết quả tốt, Hãy ghi lại.

Khi bạn cam kết với người khác hay với chính mình, hãy viết nó ra. Hãy tìm hiểu lý do, nếu bạn không đạt đươc. Những cam kết bạn không (hoặc chưa) thực hiện được có phải là nữa vời hay do sự vội vã tạo thành? Ghi chép lúc này sẽ đẩy mạnh sự nhận thức về ý chí độc lập của bạn (giúp bạn tuân thủ hơn với hành động của bản thân).

Khi bạn thấy một sự thôi thúc trong lòng về một điều gì đó, hãy ghi điều đó ra. Đồng thời  ghi cả kết quả của nó, khi bạn đã làm theo (hoặc không). Quá trình này sẽ giúp bạn cũng cố và nuôi dưỡng nội tâm của mình.

Hãy hình dung và viết ra những gì bạn nghĩ tới (ước mong). Sau đó xem nó phù hợp với nguyên tắc nào? Dựa trên nguyên tắc nào? Bạn có dám cống hiến để mơ ước được thực hiện? Những ghi chép lúc này sẽ cho bạn được một mục tiêu dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Giúp bạn biến viễn cảnh thành hiện thực và phát huy khả năng tưởng tượng (sáng tạo).

Khi bạn đã bỏ rất nhiều công sức thực hiện và vẫn chưa được kết quả gì. Hãy kiểm tra lại nguyên tắc. Rất có thể ước mơ của bạn chỉ là ảo tưởng (vì sai nguyên tắc nên không thể có kế hoạch hay bất cứ phương hướng cụ thể để tìm kiếm). Nếu bạn đang sống với những ước mơ cá nhân không được thực hiện, bạn có thể cam phận. Dù vậy nên nhớ: chờ đợi không bao giờ đem lại cho bạn chất lượng cuộc sống như ý. Nếu ước mơ của bạn thực sự dựa trên nguyên tắc, việc ghi chép lúc đó sẽ giúp bạn phát huy trí tưởng tượng. Bạn sẽ có động lực để hành động. 

Sổ tay ghi chép sẽ giúp cải thiện tiềm năng thiên phú trong bạn. Những ghi chép hiệu quả sẽ cho bạn một cảnh tượng rõ ràng. Hình ảnh được miêu tả lúc đó là sự kết hợp với các giác quan. Vì vậy yêu cầu thể hiện trong ghi chép của bạn là hình ảnh kết hợp càng nhiều cảm giác càng tốt. Những ghi chép hàng ngày cũng giúp nhìn lại những giá trị bạn đang hướng tới trong cuộc sống và có hành động theo đó không. Dù vậy kế hoạch làm việc tích hợp cách ghi chép đúng vẫn chưa hoàn chỉnh. Nó thiếu gì? Hãy đọc tiếp.

Học tập, lắng nghe và đáp ứng nội tâm của mình

Môi trường luôn ảnh hưởng lên nhận thức cá nhân. Lương tâm mỗi người cũng vì thế mà bị ảnh hưởng. Điều đó định hình lương tâm xã hội trong cá nhân. Dù vậy với khả năng nhận thức, tư duy về chân lý. Cá nhân sẽ tự phát triển được lương tâm và có nhận thức chính xác hơn so với những niềm tin và quan điểm (không phù hợp) từ xã hội. Câu chuyện sau sẽ cho bạn một góc nhìn bị khuất. Một sự thật.

Truyền thống làm việc ngoài giờ (ở Nhật) bắt đầu vào những năm 70 của thế kỷ trước. Nhân công muốn tối đa hóa thu nhập. Vì mức lương của lao động tương đối thấp. Khi khủng hoảng kinh tế – tài chính vào cuối những năm 90, các nhân viên ở lại làm việc ngoài giờ để không bị sa thải. Nhiều người lao động cố tỏ ra vui vẻ với việc làm thêm giờ. Vì sợ bị đánh giá về tinh thần, thái độ làm việc. Sự việc dần trở thành một “văn hóa làm việc”. Từ Karoshi xuất hiện từ đây.

Một Karoshi. Nữ phóng viên của Đài truyền hình NHK Nhật Bản, Miwa Sado, được phát hiện đã tử vong trên giường vào tháng 7/2013, lúc đó trên tay cô vẫn còn đang cầm chiếc điện thoại di động. Bộ phận điều tra vào cuộc.

Miwa Sado là một phóng viên chuyên đưa tin chính trị, cô đã làm việc liên tục trong khoảng thời gian bầu cử tại Nhật Bản. Cô đã vượt quá giới hạn của bản thân. Khi làm thêm tới 159 giờ, gấp 5 lần thời gian trung bình, cô chỉ nghỉ vỏn vẹn đúng 2 ngày trong 1 tháng. Một kế hoạch làm việc thiếu cân nhắc (lương tâm) đã được thể hiện.

Kết luận từ trường hợp của cô cho biết nguyên nhân tử vong là do suy tim. Vì làm việc quá sức.

Người Nhật nổi lên với phẩm chất chăm chỉ và sự kỷ luật. Vấn đề cũng đến từ đây. Văn hóa Nhật Bản không có từ để chỉ trạng thái cân bằng công việc và cuộc sống nhưng lại có riêng một từ để chỉ những cái chết vì làm việc quá nhiều, đó là Karoshi.

Những cuộc khảo sát cho thấy trong khi phần lớn người lao động Nhật đều thừa nhận làm việc quá sức. Chính những người này sẵn sàng chấp nhận làm thêm nhiều giờ liên tục, nếu công việc yêu cầu. Sự mâu thuẫn này xuất phát từ nền văn hóa coi trọng sự cống hiến ở Nhật Bản. Và sẽ có thêm các Karoshi.

Khi nghe tên một người vừa mất, bạn có thể dễ thể hiện tình cảm. Khi nghe 2000 người chết mỗi năm (vì công việc) thì sao? Thì đó là một con số thống kê. Một sai lầm tai hại.

Để phát triển lương tâm cá nhân, bạn phải ở môi trường tĩnh lặng để trầm tư, liên tục học tập (suy nghĩ), tự hoàn thiện tư duy, lắng nghe và đáp ứng nhu cầu của bản thân với các quy luật (chân lý) tự nhiên. Bạn sẽ biết được hành động nào (trong kế hoạch) đúng với lương tâm, nhận thức và lợi ích. Và còn hơn thế nữa.

Phát triển lương tâm đòi hỏi sự khổ luyện, hy sinh và tinh thần vượt qua trở ngại. Việc này đòi hỏi mỗi ngày bạn phải dành thời gian cố định để thực hiện một trong các việc sau:

Nhận diện và tuân thủ quy luật từ môi trường tự nhiên.

Đọc sách và kiểm nghiệm, suy ngẫm để mở rộng tầm hiểu biết.

Suy xét về những trải nghiệm của bản thân.

Kiểm chứng từ những kinh nghiệm của người khác.

Nhắc lại và tuân thủ nguyên tắc hình thành từ tư duy độc lập của mình.

Hành động theo suy nghĩ thuận với chân lý tự nhiên (được bản thân kiếm chứng).

Từ việc phát triển lương tâm, bạn nhận thấy rõ giá trị của bạn không đến từ cách người khác đối xử, nhìn nhận. Bạn tập trung vào những điều cốt yếu bên trong chính mình. Điều người khác nghĩ về bạn không quan trọng như việc bạn cần hiểu rõ về mình và hoàn cảnh của mình. Thay vì so sánh với người khác, bạn đối chiếu bản thân với ngày hôm qua. Hoàn thiện bản thân mỗi ngày. Dù vậy còn một việc xảy đến lúc đó. Nó là gì?

Ghi chép của bạn đã tích hợp được nhận thức, lương tâm. Dù vậy đối với một số trường hợp cá biệt, khi tích hợp cả hai thành phần trên, thì kết quả bạn hướng tới vẫn chưa được đảm bảo. Bạn không thể chỉ hoạt động hoàn toàn dựa vào tình cảm. Lý trí là phần phải gốp vào kế hoạch làm việc của bạn. Nó ngăn bạn quá buông thả với chính bản thân mình. Chấn chỉnh chính mình từ bên ngoài tới bên trong (nội tâm). Bằng hành động đơn giản.

Đưa ra và giữ lời hứa

Thực hiện lời hứa. Mỗi khi làm được, bạn gửi vào chính mình niềm tin, sự chính trực đối với bản thân. Bạn quý trọng bản thân, nhất quán trong suy nghĩ và hành động. Ý chí của bạn độc lập và điều bạn nói luôn được cân nhắc dựa vào khả năng và điều kiện của mình.

Để tăng cường sự tin tưởng ở bản thân. Việc quan trọng là phải bắt đầu từ những việc nhỏ. Thực hiện những lời đã hứa hoặc cam kết (dù nhỏ nhất). VD: thức dậy sớm hơn dù chỉ 5 phút.

Không hứa quá lời để rồi vi phạm cam kết. Thông qua các việc nhỏ, bạn dần mở rộng khả năng kiểm soát bản thân và hòa hợp với những nguyên tắc hay chân lý bạn muốn tuân thủ. Bạn trở thành người thê nào?

Sống chính trực, bạn nhận diện đầy đủ các nhu cầu của mình. Nhìn nhận sự việc và hành động đúng với những quy luật tự nhiên bạn biết. Ngoài ra trong ghi chép của bạn, những gì được ghi lại cũng có trọng lương tương đương những gì bạn nói, bạn tin. Đó như lời hứa với chính mình (tùy vào độ quan trọng bạn quyết định).

Sự chính trực cho bạn sức mạnh nhìn vào cách phản ứng của mình và thay đổi cách hành động (cũng như ghi chép trong kế hoạch của bạn). Việc đổ lỗi, lên án người khác, đổ lỗi cho hoàn cảnh hay các yếu tố khách quan khác nghĩa là bạn lựa chọn để những thứ đó chi phối cuộc sống của mình. Cuộc sống của bạn thuộc vào bạn và cách bạn lựa chọn cách hàng động. Còn sau đó thì sao?

Khi nhận thức, lương tâm và ý chí độc lập được tập hợp, bạn đã có đầy đủ công cụ để kiểm tra mỗi hành động của mình. Dù vậy tập hợp những cách kiểm tra hành động không thể giúp bạn đặt mục tiêu. Điều gì giúp bạn có một mục tiêu đáng khao khát? Yếu tố cuối cùng đã đến.

Hình dung viễn cảnh

Hãy bỏ ra ít thời gian để ở một mình, tránh xa mọi điều làm phân tán tư tưởng.

Đầu tiên, hãy hình dung lại những trường hợp làm bạn khó chịu. Sau đó tách cảm xúc và suy nghĩ thông thường của bạn ra khỏi cảnh tượng đó. Trở lại cảnh tượng đó và hình dung cách bạn dùng những nguyên tắc (bạn được biết đến) để xử lý tình huống đó với kết quả bạn muốn. Quan trọng là bạn thấy mình điềm tĩnh hơn, vui vẻ hơn và làm đối phương đổi sang hướng tốt hơn. Bạn đang rèn luyện mình.

Ngoài ra, bạn cũng có thể hình dung về một viễn cảnh bạn muốn, nơi bạn đã tạo được thành quả và tận hưởng niềm vui với vài lời chúc (hoặc nhận xét) của những người thân cận. Hãy nhớ về viễn cảnh đó. Đó là mục tiêu đời bạn.

Chi tiết cách đưa viễn cảnh vào kế hoạch của bạn sẽ được giải thích cụ thể ở bài viết khác (trong mail hướng dẫn bạn yêu cầu).

Sau các phần được nêu, bạn đã biết được hai thành phần quan trọng trong một “điều được gọi là việc quan trọng” trong đời bạn. Để điều quan trong trong đời có thể trở thành hiện thực. Giờ là lúc bạn biết qua yếu tố cuối cùng. Khi so điều quan trọng với yếu tố đó, bạn sẽ nhận diện được hành động (hay kế hoạch) nào là phù hợp. Nó là gì?

Quy luật tự nhiên (chân lý)

Độc lập với nhận thức. Chi phối mọi thứ. Các nhân vật có ảnh hưởng lớn từ xưa tới nay (cả trong tôn giáo) đều vận dụng nhận thức để hiểu được chân lý. Sau đó, để hướng tới kết quả mong muốn, họ sẽ tuân thủ hoặc vận dụng quy luật vào trong cuộc sống. Dù vậy khác biệt xuất phát từ bên trong mỗi cá nhân. Đó là gì?

Khả năng nhận thức ở mỗi người là khác nhau. Bạn có thể biết đến chân lý tự nhiên bằng năng lực tư duy của mình. Đôi lúc, bạn được biết qua giải thích từ người khác. Bạn tin vào chân lý, tin vào người giải thích chân lý. Dù bằng cách thức nào, việc nhận diện chân lý quan trọng nhất phải làm tăng cường khả năng nhận thức trong bạn. Giúp bạn giải quyết được thắc mắc cá nhân hoặc vận dụng để đạt được kết quả (bạn muốn). Sao lại đề cập việc này?

Việc cá nhân không nhận thức rõ sự khác biệt giữa chân lý và người giải thích có thể tạo ra thiếu sót trong tư duy hoặc niềm tin. Nhận thức cá nhân bị hạn chế, vì quán chiếu không đúng đối tượng. Đồng thời dễ nảy sinh lầm tưởng, khi quan sát sự việc. Việc này nghĩa là gì?

Khi đề cập đến vấn đề này, bạn không nên cho rằng nó thuộc về tôn giáo. Dù trong một số giáo lý có đề cập đến (quy luật tự nhiên). Để vận dụng phương pháp quản trị thời gian được đề cập. Bạn phải hiểu mức độ tác động lên kế hoạch hay hành động (của bạn) từ hai sự thật (chân lý) sau:

-Mọi vật trong tự nhiên luôn vận động, biến đổi không ngừng (vô thường).

-Nguyên lý (hay quy luật) nhân quả.

Về cơ bản từ nguyên lý không phải là chân lý. Dù vậy nó là nhận thức (cá nhân) hình thành từ chân lý. Sự xuất hiện từ ngữ đã ghi lại toàn bộ quá trình nhận thức này. Để hiểu rõ hơn, bạn phải làm rõ nghĩa các từ (qua từ điển) như: chân lý, quy luật, nguyên lý, nguyên tắc, quy tắc. Để thuận tiện cho bạn tìm hiểu. Nghĩa các từ được nêu bên dưới.

Chân lý là một sự thật luôn luôn đúng và tồn tại mãi mãi theo thời gian.

Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp đi, lặp lại giữa các yếu tố trong cùng một sự vật hay giữa các sự vật với nhau.

Nguyên lý là những điều cơ bản của một học thuyết.

Nguyên tắc là điều cơ bản rút ra từ thực tế khách quan để chỉ đạo hành động.

Riêng từ quy tắc nghĩa là những điều quy định đòi hỏi phải tuân theo trong một hoạt động chung nào đó (không nhất thiết từ thực tế khách quan).

Nhiều người không nhận thức lại niềm tin của mình (một cách rõ ràng). Họ không tạo ra và giữ được nguyên tắc (căn bản) phát sinh từ sự tự nhận thức. Lúc hành động dựa trên niềm tin bên ngoài xã hội, họ vi phạm những nguyên tắc cơ bản và gây hại. Không có nguyên tắc dẫn đến hành động của họ bào mòn nhận thức của chính họ. Đó là lúc tín tâm dễ tạo ra kết quả gây hại.

Khi không xuất phát từ hai sự thật trên, hành động và kế hoạch làm việc của bạn có thể vướng vào các việc sau: Bạn tạo một kế hoạch hành động không thực tế hoặc một kế hoạch không linh động. Kết quả luôn tạo ra sự bức bối trong lòng, khi bạn cương quyết bám theo. Vậy sự biến đổi không ngừng của tự nhiên (vô thường) giúp được gì cho bạn? Hãy đọc tiếp.

Mọi vật luôn biến đổi (vô thường)

Vạn vật luôn biến đổi. Không có việc gì mãi cố định. Trong cuộc sống luôn biến đổi, việc đặt ra một thứ cố định để hướng đến (mục đích) là có thật. Thực tế là phải có mục tiêu thì mới có kế hoạch. Bạn biết rõ điều đó. Từ việc nhận thấy thực tế luôn biến động, bạn biết kế hoạch đặt ra sẽ gặp các sự việc ngẫu nhiên xen vào. Vì vậy bạn muốn sự linh động trong kế hoạch bạn đề ra? Liệu đó có phải là tất cả lợi ích. Điều thú vị đã đến.

Lợi thế từ việc nhìn nhận sự thật tự nhiên luôn biến động sẽ giúp bạn tránh một sai lầm mà nhiều người ngộ nhận. Thực tế, bạn có toàn quyền kiểm soát tâm trí. Bạn có thể lựa chọn hành động. Bạn là tác nhân ảnh hưởng đến kết quả. Dù vậy bạn không quyết định được kết quả (hoặc sự việc) nào sẽ đến. Chính tự nhiên mới quyết định kết quả bạn nhận. Điều này có lợi ích gì?

Bạn từng nghe câu: “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Nếu bạn phủ nhận điều đó, bạn đang chống lại người xưa chăng? Người xưa đã “xưa” rồi. Chỉ có chân lý là chưa cũ đến mức bạn có thể thay đổi được. Hãy cân nhắc.

Khi biến động nằm trong khoảng cách giữa bạn và mục tiêu, môi trường được xếp thành yếu tố ảnh hưởng tới kết quả. Và bạn cũng là một trong các yếu tố đó. Lúc đó, việc đạt mục tiêu đơn thuần là sự hội đủ các điều kiện. Đồng thời mục tiêu và bạn là hai chủ thể khác nhau. Việc không đạt được mục tiêu là chuyện có thể đến. Vậy khi mục tiêu tách biệt với bạn, thất bại có được phép hủy hoại ý chí của bạn không? Nhận thức rõ ràng. Tinh thần của bạn độc lập. Và còn nữa.

Khi kết quả không như ý, bạn dễ dàng nhận diện được nguyên nhân. Thất bại do ngoại cảnh không làm bạn thoái chí. Khi không đạt được mục tiêu đến từ yếu tố nội tại, bạn biết mình cần thay đổi và hướng tới mục tiêu. Cải thiện năng lực và hiệu quả của bản thân, để thu hẹp khoảng cách giữa nơi bạn đứng với nơi bạn muốn đến. Bạn chú tâm học hỏi từ những người thành công, thay cho việc chỉ học từ người thành công. Bạn dễ đề ra được kế hoạch khắc phục chính mình. Hành động của bạn là sự chính trực. Cách ứng xử bộc lộ.

Bạn dễ dàng khen ngợi trước thành công của người khác. Không tự cao trước thành công của chính mình. Bạn e dè trước sự ca ngợi của người khác, chứ không phủ nhận nó (ai không chấp nhận lời khen tức là muốn được khen thêm lần nữa – tục ngữ). Cuối cùng, bạn chấp nhận lời khen vì bạn thừa nhận công sức (nỗ lực) đã bỏ ra. Một kết quả chắc chắn từ hành động bạn làm. Hành động đó là gì?

Trong cuộc sống, bạn thực hiện công việc hàng ngày qua nhận định và quy tắc riêng. Khi dựa vào quy tắc cá nhân, mọi hành động đều cần sự nỗ lực tuân thủ. Qua nhìn nhận, đánh giá cho đến hành động, một người (gồm cả bạn) sẽ thực hiện theo cách sau: Nhắm tới làm những việc cần làm hoặc tránh làm những việc cần tránh. Kết quả không như ý xuất hiện, khi bạn không làm rõ việc cần làm và cần tranh. Từ đây lương tâm lên tiếng, khi bạn dừng lại và phân tích. Một hồi báo.

Nhân quả

Gieo nhân là có quả. Có quả tức có nhân. Quy luật ai cũng biết. Dù biết chưa chắc bạn đã dùng. Điều gì chứng tỏ việc đó? Bạn có thể dễ dàng đưa vào kế hoạch những hành động để đạt được kết quả. Bạn cũng dễ dàng thực hiện một việc để hướng tới kết quả mong muốn. Khi nhìn vào mục tiêu, bạn biết đó là kết quả cuối cùng của mọi việc đang làm. Việc đạt được mục tiêu là hồi báo cho bạn biết đã đến đích. Một nhận định khác.

Trong kế hoạch làm việc, bạn biết mình tiến dần tới mục tiêu, vì đã thực hiện xong các mục tiêu nhỏ hơn. Dù vậy ngoài cách đó bạn còn biết loại hồi báo nào khác? Câu trả lời bên dưới.

Trong quản trị thời gian, trừ phản hồi từ những việc hoàn tất trong ngày, bạn dùng cách gì để biết mình đang tiến tới mục tiêu cuộc đời mình? Nếu không có câu trả lời, đó là một dấu hiệu cho thấy bạn đã không để ý tới lợi ích từ quy luật nhân quả. Bạn có thể cho rằng mình không rõ mục tiêu cuộc đời, nên không thể trả lời câu hỏi vừa được đề cập. Vậy giờ làm sao? Đã đến lúc nhớ lại.

Nhìn vào hành động. Hàng ngày, bạn xử lý mọi việc qua nhận định và quy tắc riêng. Tuân thủ quy tắc, bạn thường thực hiện theo cách sau: Nhắm tới làm những việc bạn muốn (hay thấy cần làm) hoặc tránh những việc không thích (hay cho là vô ích). Có phải hành động sẽ đưa tới kết quả? Chắc rồi. Bạn hướng đến một kết quả, dù không rõ nó là gì. Có lúc bạn thấy vui, nhiều lúc bạn phát bực. Chán nản thì nằm đâu đó ở giữa vui và buốn (không phải giữ vui và bực, vì không ai chán khi bực cả – họ mất kiểm soát rồi!). Nguyên nhân thật sự là gì?

Không rõ ràng. Với những người có mục tiêu hoặc biết được những việc cần làm, họ không gặp nhiều trường hợp bức bối. Vì những việc họ làm sẽ cho kết quả nhất định (cái họ tìm). Trường hợp bức bối thường xảy ra với việc tránh những việc không làm (vô bổ). Bạn có thể hình dung nó với việc sau.

Bạn muốn tới chơi nhà một người bạn thân. Bạn làm mọi thứ để tới đó (làm việc cần làm) và vui vẻ. Trường hợp còn lại, khi bạn muốn đến chơi nhà bạn và chỉ làm mọi việc để ra khỏi nhà (tránh làm những việc cần tránh), kết quả bạn được ở đâu đó giữa nhà mình và nhà người bạn. Bạn chán nản và lạc lối. Và còn nữa.

Có người kết hợp được cả việc cần làm và việc cần tránh trong cách làm việc hàng ngày của mình. Dù vậy vẫn cảm thấy mọi việc không tới đâu. Họ đã cố tuân thủ. Tránh được việc phải tránh, họ thấy mình làm được việc gì đó. Còn khi làm việc cần làm, cảm giác có khi rất trơ. Sao lại như vậy? Quy luật chỉ rõ.

Ảo tưởng. Làm được việc cần làm với cảm xúc không hài lòng hay hứng khởi. Bạn đã gán cho việc được làm một ý nghĩa không đúng với lương tâm của mình. Bạn đã không dựa trên đúng loại tinh thần, tầm nhìn và ý nghĩa cuộc đời mình để đưa ra việc phải làm. Bạn thấy điều gì trong việc đã làm? Cảm giác trống rỗng đến.

Gây hại. Trường hợp tránh làm những việc bạn không thích (hay vô bổ), bạn đã tuân thủ được quy tắc của mình. Bạn cảm thấy hài lòng. Bạn nhận được lợi ích cho bản thân. Dù vậy có bao giờ bạn nhìn nhận từ góc độ lợi ích của người khác? Họ có bị thiệt hại gì hay gặp phải vấn đề gì? Điều gì hình thành phản hồi của người khác, khi bạn không gây hại hay đem đến lợi ích cho họ? Phiền phức đeo bám. Đã đến lúc nhìn lại.

Dù bạn có mục tiêu cuộc đời hay không. Mọi hành động của bạn đều mang đến kết quả. Và nhân quả là hồi báo. Những hồi báo liên tục đến với bạn trong quá khứ, cũng như hiện tại. Bạn từng thêm vào những việc cần làm để đạt mục tiêu. Đôi khi bạn bỏ qua cảm nhận ở thời điểm hiện tại. Bạn không rút ra cho mình những việc cần phải thay đổi. Vì bạn đã quen với những hồi báo kiểu không hoàn thành mục tiêu (trong bảng kế hoạch). Trong khi lương tâm cho bạn những hồi báo dạng khác. Nó là gì?

Những dấu hiệu cảm xúc. Trong kế hoạch làm việc hay trong hành động thường ngày (nói chung là quản trị thời gian), khi làm đúng một việc quan trọng, nó sẽ kéo theo sự hài lòng trong bạn. Đó là quả. Khi bạn cảm thấy không hài lòng ngay tại thời điểm hiện tại, đó cũng là quả. Nguyên nhân của nó là những việc bạn cần phải xem xét lại. Để thay đổi hành động. Hướng tới tương lai.

Tôi biết một người rất năng động trong các hoạt động thiện nguyện. Dù vậy, khi không hoạt động thì thời gian còn lại dùng để xem phim. Việc xem phim chẳng phạm vào quy định nào của giới luật. Dù vậy sau mỗi lần xem phim, thì suy nghĩ tự vấn lại đến. Lúc đó việc tiếp theo của chị ấy là đọc hoặc nghe giảng giáo lý để giải quyết cảm giác hối hận. Quả đã có. Vấn đề là nhận thức và tín tâm không hoạt động dựa trên chân lý. Có lần tôi từng hỏi: “Sao phải xem phim để rồi phải đọc giáo lý (kinh)?”. Chị ấy không trả lời (có lẽ vì tôi không đủ sức giải thích cho dễ hiểu). Sau đó tôi đã nghĩ: “Khi một người không có nhận thức và sự tái nhận thức (lương tâm) dựa vào chân lý, thì sự cuồng tín, ảo tưởng và gây hại có phải đã đến rồi?”. Còn giờ tôi tự hỏi: “Thế nào gọi là ngộ?” (trong từ điển Hán Nôm, ngộ ở đây nghĩa là “hiểu” trong từ ngộ đạo, không phải mang nghĩa là “như” trong từ ngộ độc. Dù bạn vừa gặp một trường hợp ngộ độc kiến thức).

Khi nhân quả thể hiện cả trong cảm xúc. Việc quan sát cảm nhận mỗi ngày sẽ cho bạn biết mình có tiến tới một cuộc sống ý nghĩa hay không. Bạn sẽ thấy con đường của mình. Ý nghĩa thật sự.

Sự hội tụ các thành phần

Các thành phần hội tụ đưa bạn đến một điều quan trọng. Có được điều quan trọng của đời mình, bạn sẽ biết những việc cần làm. Khi làm được những việc quan trọng hướng tới mục tiêu, bạn sẽ thấy mỗi giây mang đầy ý nghĩa.

Khi một kết quả xấu đến, bạn dễ dàng nhận diện mọi nguyên nhân và có cách thay đổi cho phù hợp với chân lý. Bạn rút ra được bài học và cách xử lý tốt nhất ở mình. Bạn liên tục học tập để phát triển tư duy, để biết, ứng dụng và hòa hợp với chân lý. Chấm dứt những hành động trái ngược chân lý. Hành động của bạn lúc đó dựa vào các nguyên tắc.

Dần dần bạn hình thành một lối sống gắn với nguyên tắc. Nơi giá trị của bạn bắt nguồn từ sự chính trực với chân lý, nguyên tắc và tư duy của chính mình.

Khi khoảng cách giữa tác nhân và phản ứng lớn hơn, bạn sẽ có nhiều sự lựa chọn tốt hơn. Bạn biết mình chi phối tuyệt đối suy nghĩ. Bạn là tác nhân ảnh hưởng lớn nhất với cuộc đời mình. Và khi không kiểm soát hoàn toàn được kết quả, bạn trở nên khiêm tốn với những gì đạt được.

Cuối cùng, không có gì chứng minh việc bạn sẽ được nhắc đến với một phong cách khiêm tốn. Khi đến một thời điểm, cái bạn nói chỉ là sự chính trực bị đánh giá là thiếu khiêm tốn (từ người khác). Hãy trung thực, thản nhiên, tự tin (hoặc ngông cuồng) và nói: “tôi hiện được cho là một trong những người đứng đầu (trong lĩnh vực nào đó)”. Không gì ngoài sự thật.

Thú thật, tôi có chút thần tượng về David Ogilvy. Một ông hoàng ngành quảng cáo. Ông thừa nhận khiêm tốn không phải là đức tính của mình. Mọi người thì thấy khác. Dù một bài viết của ông cho công ty sản xuất (xà phòng-Dove) tăng doanh thu hiệu quả suốt 25 năm. Các kẻ thù miệng lưỡi sắt nhọn có thế nói ông “bình thường”. Và nếu có thể “bình thường”, thì nó có thể giống với miêu tả “bình thường” trong bô phim tài liệu của hãng thông tấn BBC làm về cuộc đời ông. Ông là một “kẻ điên bình thường”!

Khi Stanley (một nhà kinh doanh với 45 năm kinh nghiệm lãnh đạo) nói đã cho 4 người trong đội ngũ đi xác định các nhân tố thường xuyên hiệu quả (trong nội dung bài viết quảng cáo). Sau 2 năm họ đã tìm được 12 nhân tố. Rất lịch sự, Ogilvy ngạc nhiên nói với Stanley rằng mình đã tìm ra 96 nhân tố. Sự thật như gáo nước lạnh.

Trở ngại bạn có thể gặp

Học tập là để giải quyết vấn đề. Lợi ích từ nội dung chỉ thể hiện, khi bạn ứng dụng được. Và để thực hiện bạn phải đáp ứng vài điều kiện hỗ trợ trước đó.

Trước hết, bạn phải chấp nhận hai sự thật (chân lý) đã đề cập. Đồng thời bạn phải xây dựng được những nguyên tắc cơ bản của chính mình.

Tiếp đó, trong công việc, khi hoạt động theo quyền hạn (bạn được tự chọn cách làm), bạn phải tự định hướng và thực hiện công việc (theo độ quan trọng). Lúc đó, bạn mới phải nhìn nhận và sắp xếp mọi việc sao cho đạt hiệu quả tốt nhất. Khi làm theo yêu cầu của cấp trên, hành động của bạn dựa trên chỉ dẫn. Bạn không có sự lựa chọn, nên không áp dụng được phương pháp quản trị thời gian trong thời điểm đó.

Sau cùng, nếu phải trừ đi thời gian làm việc, thì cuộc sống vẫn là khoản thời gian của bạn. Không ai là cấp trên để chỉ thị bạn việc phải làm. Bạn là chủ và đồng thời là người lãnh đạo cuộc đời mình. Làm sao có kết quả tốt, khi lãnh đạo không biết điều gì là quan trọng?

Ngoài ra, qua toàn bộ bài viết, bạn vừa có được bộ tư duy trong việc quản trị thời gian.

Xin nhắc lại đây là việc quản trị thời gian. Nó không phải là quản lý thời gian (*2).

Dù vậy bạn vẫn chưa có công cụ để quản trị thời gian. Nội dung tiếp theo sẽ giúp bạn có được công cụ cần thiết. Tư duy kết hợp với công cụ sẽ hỗ trợ cách bạn xử lý mọi việc.

Sau cùng, khi có đầy đủ các phần, đó không chỉ là một cách thức quản trị thời gian cá nhân. Nó không phải chỉ là cách làm việc của bạn. Đó chính là những giây phút ý nghĩa trong đời. Những phút giây phát sinh cảm xúc, không phải là sự bức xúc.

Tái bút

Bạn đã thấy những thiếu sót trong kế hoạch hiện tại. Bạn đã có cách kiểm tra về điều quan trọng của mình và những phần cần đưa vào trong kế hoạch hay cách làm việc. Một tinh thần đúng sẽ đem lại cho bạn sức mạnh đồng thời cả niềm vui và lợi ích. Những tiềm năng tư duy sẽ biến kế hoạch của bạn trở nên hữu dụng hơn và những chân lý cần thiết để kế hoạch do bạn tạo thành không phải là một sản phẩm lỗi. Bên cạnh đó còn có một sự thật mà bạn cần nhận ra sớm hơn. Đó là gì?

Khi mọi hành động đều tạo thành kết quả, Những hành động của bạn sẽ biến bạn thành ai? Nếu bạn không biết mình trở thành người thế nào, thì ai sẽ là người chịu hậu quả cho hành động của bạn? Với người đặt niềm tin vào nhân quả, họ sẽ chịu trách nhiệm với kết quả (và thôi lo sợ) khi thay đổi hành động. Khi chắc chắn thời gian sẽ không quay trở lại, ai mới phải quý trọng từng khoảnh khắc của đời mình?

Bạn muốn một cuộc sống trên cả tuyệt vời, bạn phải làm những việc tốt nhất. Khi làm những việc tốt nhất thì nhân quả nói điều gì? Thế giới này có người trông giống nhau. Dù vậy không ai hoàn toàn giống nhau. Khi lựa chọn điều tốt nhất, cuối cùng bạn sẽ thành số một.

Có lúc (tình cảnh khiến) tôi không biết mình đang đứng ở đâu (trong hố đen vũ trụ chăng?). Tuy vậy tôi biết mình sẽ vượt qua số một. Khi cuộc sống đòi hỏi có phân biệt thứ hạng, sao có hai người cùng một hạng được? Thú thật sao phải quan tâm tới vị trí số một của người khác chứ? Không phải chỉ cần quyết tâm làm những điều tốt nhất là được sao?

Sao tôi (và bạn) phải từ bỏ những điều tốt đẹp nhất chứ? Dù vậy cũng không nên ảo tưởng sẽ có hai vị trí dẫn đầu (nhớ liệt kế thêm lĩnh vực bạn nhắm đến, nếu không muốn lạc lối).

Thực tế là hầu hết mọi người biết chân lý, có tiềm năng cùng khả năng. Chính việc không biến nó thành hiện thực trong cuộc sống. Đó là hệ quả dẫn đến thất vọng. Khi thời gian một đời sống là hữu hạn, bạn muốn mình cảm thấy thế nào với những việc đã và đang làm? Bạn sẽ làm gì lúc này?

Việc bạn cần làm để nắm bắt nội dung

Bạn cần hiểu rõ và nhớ các phần đã nêu. Vì tư duy là lối suy nghĩ dựa vào những gì được nhớ và được biết. Bạn cũng có thể trình bày kiến thức này với một người khác để nhớ tốt hơn. Nếu được, bạn hãy bắt đầu bằng việc hỏi xem người đó biết gì về nhân quả.

Quan trọng nhất là hãy đảm bảo bạn sẽ phải đọc lại nội dung này lần nữa (vào thời điểm yên tĩnh), sau khi đọc qua toàn chuyên mục. Đó là thời điểm để bạn gắn kết nội dung này với cách tổ chức kế hoạch làm việc (công cụ). Bạn sẽ vận dụng được tất cả.

Hãy lưu lại bài viết này trên trang cá nhân hay một nơi bạn có thể tìm đọc lại, nếu thấy việc dùng thời gian hiệu quả có ý nghĩa với bạn. Đồng thời nên biết cách quản trị thời gian này là định hướng cốt lõi của những công ty có tốc độ phát triển nhanh nhất nước Mỹ (fortune 500). Nơi các cá nhân trong tổ chức đòi hỏi phải phối hợp và làm việc với hiệu quả lớn nhất. Nếu bạn chia sẽ bài viết này cho người bạn thấy cần (dưới bất kỳ lý do gì), thì tôi sẽ rất vui (thật ra khi bạn đọc bài viết này thì tôi đã hưởng niềm vui của mình rồi).

Chú thích

(*1): Giải thích tổng quan về nguyên lý 80/20. Bạn vui lòng tìm đọc để hiểu chi tiết về những phần liên quan đến nguyên lý. Để dễ hiểu, bạn cần hiểu tống thể như sau: Theo nguyên lý trong một việc bạn làm để hướng đến một kết quả nhất định. Kết quả (phần lớn 80%) sinh ra chủ yếu từ 20% (con số thống kế ước lượng) công việc bạn đã làm.

VD: một học sinh nhắm đến kết quả kiểm tra tốt đã chuẩn bị giấy, viết, máy tính,… xong không chuẩn bị kiến thức cho bài kiểm tra. Kết quả: rớt! Nên phải nhìn nhận việc có kiến thức để kiểm tra quan trọng hơn các việc khác. Tức 20% công sức cho việc chuẩn bị kiến thức có thể tạo ra 80% kết quả bài thi. Và 80% công sức chuẩn bị giấy, viết,… có thể tạo ra 20% kết quả còn lại.

Ứng dụng nguyên lý trong công việc, Mọi việc một người phải làm sẽ dựa vào hai phần gồm: việc gấp và việc quan trọng. Từ đó phân thành một bản gồm bốn phần: gấp – quan trọng, gấp – không quan trọng, không gấp – quan trọng, không gấp – không quan trọng. Để hiệu quả tăng, bạn phải điều chỉnh thới gian tập trung vào phần quan trọng – gấp cũng như phần quan trọng – không gấp.

(*2): Quản lý thời gian tự nó đã thể hiện việc bạn làm là vận hành để đạt năng suất lớn nhất trong một việc đã định. Trong khi quản trị thời gian đòi hỏi bạn phải quyết định đâu là việc quan trọng để làm trước khi làm thật nhiều một việc gì đó. Đâu đó bạn sẽ được nghe truyền miệng câu: “Quản lý nằm trong hệ thống. Quản trị nằm trên hệ thống” hay “lãnh đạo là làm việc đúng, quản lý là làm đúng việc”. Làm một việc quan trọng (việc đúng) khác hoàn toàn với thật nhiều việc (đúng việc – tức chuyên môn hóa gắn với khối lượng công việc). Bạn phải làm việc đúng trước rồi mới tới đẩy nhanh tốc độ làm việc. Cuối cùng bạn đang muốn quản lý thời gian hay quản trị thời gian? Và ai sẽ giúp bạn quản trị cuộc đời mình hay là lãnh đạo cuộc đời của bạn?