Nội dung này dành cho những ai đã thông thạo với các phép tính cơ bản đã nếu trước. Nếu chưa thuận thục với phép nhân bạn có thể tham khảo để biết thêm. Chúng tôi khuyến khích việc tìm hiểu và tự học. Vì vậy để đạt kết quả tốt nhất bạn nên hiểu rõ phép nhân trước khi vào nội dung này.

Link của bài phép nhân: https://superhumanvn.com/phat-trien/phep-nhan-tren-ban-tinh-gay/

Phép chia trên bàn tính gẩy và cach thể hiện các phần tử

Có 2 phương pháp cơ bản của phép chia trên bàn tính gẩy. Phương pháp lâu đời nhất dù vẫn được nhiều người ưa thích. Phương pháp mới xuất hiện từ cách sử dụng chung từ khoảng 1930. Dưới yêu cầu nhớ về bản chia đặc biệt. Phương pháp mới nhất thì dễ học hơn vì nó sử dụng bảng nhân thay vì bảng chia. Cái đang được dạy trong trường học (ở Nhật). Nó sẽ được giới thiệu trong các nội dung tiếp theo. Nói một cách nghiêm túc, nó không mới khi nó được sử dụng quá lâu, dù chỉ trong giới hạn sử dụng cho tới gần 1930 khi nó được cải tiến và phổ biến hơn.

Thuật ngữ tiêu chuẩn sẽ được sử dụng trong miêu tả phương pháp. Ví dụ, trong bài toán 50 /5 = 10, 50 là số bị chia, 5 là số chia và 10 là thương.

Cách thể hiện là tập quán đặt số bị chia lệch về phía bên phải của trung tâm bàn tính và số chia ở bên trái. Hai số phân biệt nhau bởi 3 hay 4 cột không sử dụng, Như hội đồng bàn tính ủng hộ việc học với 4 cột không sử dụng giữa 2 số, ví dụ sẽ tham gia vào thực hành theo cách đó.

Phương pháp của số chia sử dụng ở đây cho chữ số đầu tiên của thương nằm giữa số chia và số bị chia. Có 2 lý do chính có thể giải thích cho việc đặt số bị chia ở bên phải và số chia ở bên trái. Đầu tiên là từ khi bàn tính hoạt động với thay phải, thay đổi trật tự của việc đặt 2 số có thể gây ra số nhân bị che khuất bời tay phải nhiều lần, như trong trường hợp phép nhân. Trật tự trong trường hợp phép chia có thể chia đúng bởi số chia. Đổi trật tự khiến cho thương số mở rộng về phía bên phải của số chia.

Trong phép chia, như trong phép nhân, cách dùng cột đơn vị không phải là quá cần thiết, nhưng nó tạo điều kiện theo nhiều kiểu. Cho nên, số liệu đơn vị của số bị chia thì luôn đặt trên cột đơn vị. Khi số chia là toàn bộ số, tuy nhiên, chúng ta sẽ xem thường cột đơn vị, và chỉ đơn giản đặt số chia theo cách để chữ số cuối cùng được định vị trên cột thứ 5 theo bên trái của số bị chia.

Như là một trật tự của việc đặt số bị chia và số chia, khi chữ số cuối  cùng của số bị chia phải đặt trên cột đơn vị. Nó được khuyên cho người mới bắt đầu đặt só bị chia trước việc đặt số chia. Như trong trường hợp phép nhân, tuy nhiên các chuyên gia thường đảo ngược tiến trình, đặt số chia trước hay không đặt gì cả.

Phép chia với những số có 1 chữ số

VD1: 8/2 = 4

B1: đặt số bị chia 8 trên cột F và số chia 2 trên cột A, với 4 cột để trống giữa số chia và bì chia. Đảm bảo rằng F là cột mốc đánh dấu với điểm đơn vị (hình 118)

B2: nhẩm chia 8 với 2 (8/2 =4). Đặt thương 4 trên cột D, cột thứ hai nằm bên trái của số bị chia. Và xóa 8 trên F (hình 119) và hàng được chỉ ra kết quả  trên hình minh họa cho kết quả của bước này.

VD2: 837/3= 279

B1: đặt 837 trên FGH, với H như là cột mốc. Và đặt 3 trên A (hình 120)

B2: so sánh 3 với 8 của 837. 3 chia từ 8 là được 2 với 2 hạt còn lại. Đặt thương 2 trên D (cột thứ 2 bên trái số 8 của 837), tiếp theo nhân số chia 3 với thương 2, trừ kết quả 6 từ 8 trên F. Việc này làm 2 xuất hiện trên F (hình 121)

B3: so sánh 3 với 23 trên FG. Số 2 trên F là số còn lại của bước trước. 3 chia từ 23 là 7 với 2 dư ra. Đặt 7 như là số liệu thương trên E. Tiếp theo nhân số chia 3 với 7 và trừ kết quả 21 từ 23 trên FG. Việc này cho  ra 2 trên G (hình 122).

B4: so sánh 3 với 27 trên GH. 2 trên G là phần thừa còn lại như là kết quả của bước thứ hai. 3 chia từ 27 là 9. Đặt thương 9 trên F. Tiếp theo nhân 3 với 9 và trừ kết quả 27 từ 27 trên G. Xóa GH và để lại kết quả 279 trên DEF (hình 123)

Chú ý: đáp án của bài toán có thể kiểm tra dễ dàng bằng việc nhân. Như vậy, để kiểm tra trươc khi trả lời, đơn giản chỉ cần nhân thưởng 279 trên DEF với số chia 3. Đó là số bạn chia ban đầu, và bạn nhận kết quả 837 trên FGH. Những cột tương tự bạn có như số liệu của số bị chia. Bằng việc kiểm tra người học sẽ thấy rằng vị trí của Thương trong phép chia cũng là số bị nhân trong phép nhân. Và vị trí của số bị chia trong phép chia là kết quả của phép nhân. Cho nên, chúng ta có thể nói rằng phương pháp nhân và chia được giới thiệu trong hướng dẫn này là phần đối chiếu của nhau.

VD3: 6013/7 = 859

B1: đặt 6013 trên FGHL với 1 lấy làm cột mốc, và đặt 7 trên A (hình 124)

B2: so sánh số chia 7 với 6 trong 6013. 7 không chia được từ 6 vì vậy so sánh 7 với 60 trong 6013. 7 chia 60 bằng 8. Trong trường hợp này đặt thương 8 trên E. Cột đầu tiên bên trái của chữ số đầu tiên thuộc số bị chia. Tiêp theo nhân số chia 7 với 8, và trừ kết quả 56 từ 60 trên cột FG. Việc này để lại 4 trên G (hình 125).

B3: so sánh 7 với 41 trên GH. 7 chia từ 41 là 5. Đặt thương 5 trên F. Tiếp theo nhân 7 với 5 và trừ 35 từ 41 trên GH. Việc này làm hiện 6 trên H (hình 126).

B4: so sánh 7 với 63 (số còn lại trên HI). 7 chia từ 63 là 9. Đặt 9 trên G. Tiếp đến nhân 7 với 9 và trừ kết quả 63 từ 63 còn lại trên HI. Việc này làm xóa HI và để lại đáp án 859 trên EFG (hình 127).

Chú ý: khi số chia lớn hơn số đầu tiên của số bị chia, so sánh nó với 2 số đầu tiên của số bị chia. Trong trương hợp này đặt thương số trên cột đầu tiên bên trái của chữ số đầu tiên của  số bị chia. Điều thích hợp cốt yếu của quá trình là trong lúc kiểm tra thương nhân với số chia cho kết quả trên cùng những cột của số bị chia được đặt trước khi nó bị chia.

Tiến trình này tương tự như nguyên lý của phép chia được minh họa. Lúc chia 36 với 2 bạn viết thương 1 trên 3 của 36. Trên bàn tính số thương không thể đạt trên số bị chia. Vì vậy trong khi chia 36 cho 2, số thương đầu tiên 1 đặt trên cột thứ 2 bên trái của 36. Trong khi chia 36 cho 4, thương 9 đặt ở cột đầu tiên bên trái 36.

Chú thích: nếu số số đầu tiên của số bị chia chia cho số chia không hết (tức có phần dư còn lại trên cột số bị chia) thì đặt thương ở vị trí cách số bị chia ở 2 cột về bên trái.

Nội dung thực hành trong ngày

Bắt đầu với các phép chia cơ bản trong nội dung thực tập

Việc sử dụng hình ảnh tượng tượng của bàn tinh trong đầu lúc đầu có thể khá khó khăn. Bạn sẽ dần quen với nó khi độ tập trung của bản thân tăng cao.

Một số trường hợp do muốn đạt kỹ năng nhanh hay việc sử dụng làm trò chơi cộng từ số 1 – n bị bỏ quên, khi dùng lại sẽ làm bạn hơi rối. Hãy thực hiện thêm vào lúc rảnh dù đôi lúc nó gây cho bạn cảm giác không dễ chịu. Đừng bỏ cuộc vì phần não nghệ thuật đang được tập luyện. Nghỉ mệt và quay lại vào lúc khác là tốt nhất để cảm giác gẩy giống như đánh đàn.

Bài tiếp theo: https://superhumanvn.com/phat-trien/phep-chia-co-2-chu-tu-hoc-ban-tinh-gay/

Leave a comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *